QUÁ TRÌNH DU NHẬP CÀ PHÊ VÀO VIỆT NAM

Cây cà phê đầu tiên được người Pháp mang đến Việt Nam vào năm 1857. Từ các đồn điền nhất nhì Đông Dương này, cây đã có những trở mình mạnh mẽ. Nó thoát khỏi định chế bao cấp, trở thành một trong những cây trồng có giá trị xuất khẩu cao nhất (sau lúa gạo). Đưa nước ta lên vị trí thứ 2 của bản đồ cà phê thế giới.

Giống cà phê chè (Arabica) là giống đầu tiên được du nhập vào nước ta từ năm 1857. Nó thông qua một số linh mục thừa sai người pháp. Đầu tiên trồng thử nghiệm tại các Nhà thờ Thiên chúa giáo một số tỉnh ở khu vực phía Bắc. Sau đó, cây được trồng mở rộng vào các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh…

Tiếp đến, nó lan ra các tỉnh miền Trung như Quảng Trị, Quảng Bình. Sau chiến tranh các khu vườn cà phê chè ở đây vẫn tiếp tục được duy trì. Vì thế, khu vực này có sự phân bố cây cà phê chè rất cao. Sau cùng cây mới phát triển dần vào Nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Người ta bắt đầu nhận ra rằng Tây Nguyên chính là nơi thích hợp nhất để trồng cây cà phê.

Sau khi giống cà phê arabica được du nhập vào Việt Nam năm 1857. Thì sau đó vào năm 1908, Pháp du nhập thêm 2 giống cây vào Việt Nam. Đó chính là cà phê Robusta và cà phê mít. Sau thời gian, thực dân phương Tây thấy giống cà phê chè không mang lại hiệu quả kinh tế cao. Vì vậy đã đưa giống cà phê vối từ Công-gô vào trồng ở Tây Nguyên. Cây phát triển rất mạnh mẽ, diện tích cây ngày càng tăng.

Tây Nguyên trở thành khu vực trồng cà phê Vối lớn nhất nước ta cả quy mô và danh tiếng. Đồng thời gắn với một vùng địa danh mang nhiều huyền thoại như cà phê Buôn Ma Thuột.

Sau giải phóng, diện tích cà phê cả nước khoảng 20.000 ha. Nhờ hỗ trợ vốn từ quốc tế, cây dần dần được chú trọng. Đến năm 1980 diện tích đạt 23.000 ha, xuất khẩu trên 6000 tấn. Kế hoạch xây dựng năm 1980 đặt mục tiêu cho ngành cà phê Việt Nam có khoảng 180 nghìn ha. Với sản lượng 200 nghìn tấn. Sau đó, bản kế hoạch này đã nhiều lần sửa đổi. Các con số cao nhất dừng lại ở mức 350 nghìn ha với sản lượng 450 nghìn tấn (VICOFA, 2002).

Sự phân bố cây cà phê ở Việt Nam phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong đó yếu tố về điều kiện sinh thái và đất đai có vai trò rất quan trọng. Tây nguyên được tạo hóa ban cho đất đỏ bazan  trù phú (2 triệu hécta, chiếm 60% đất bazan cả nước). Đất có tính chất cơ lý tốt, khả năng giữ nước và hấp thu dinh dưỡng cao. Có kết cấu viên cục độ xốp bình quân 62-65%. Bên cạnh đó còn có khí hậu mát mẻ, mưa nhiều nên rất thích hợp với loại Robusta. Ngoài ra, cây cà phê vối được trồng ở Việt Nam có nguồn gốc từ rừng rậm Châu Phi. Phân bố ở khu vực có độ cao trên 1000m, do đó ở Việt Nam không có nơi nào thích hợp hơn Tây Nguyên.

Khu vực Trung du miền núi Bắc Bộ cũng có độ cao phù hợp với điều kiện cà phê Vối. Nhưng khí hậu ở đây không cho phép trồng. Vì khu vực có mùa đông lạnh và rét mà cây không thể chịu nhiệt độ quá thấp. Nên cà phê vối không được trồng nhiều ở vùng này. Cao nguyên Buôn Ma Thuột không những là nơi cây cà phê sinh trưởng tốt mà còn tạo nên hạt chất lượng cao. Hương vị khác biệt so với nhiều vùng đất khác.

Chính sự khác biệt đó là yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh của cà phê Buôn Ma Thuột. Nơi đây trở thành “tâm điểm” của ngành cà phê Tây Nguyên nói riêng, Việt nam nói chung. Đặc biệt là đối với cà phê vối (cà phê robusta).

Cà phê chè ưa nơi mát và hơi lạnh, phạm vi thích hợp từ 18oC – 25oC, thích hợp nhất từ 20oC – 22oC. Do yêu cầu về nhiệt độ nên cà phê chè trồng ở miền núi có độ cao từ 600 – 2.500m. Ngược lại cà phê vối thích ở nơi nóng ẩm, phạm vi nhiệt độ thích hợp từ 22oC – 26oC, song giới hạn nhiệt độ thích hợp nhất từ 24oC – 26oC. Gió rét và gió nóng đều bất lợi đối với sinh trưởng của cây.

Như vậy chính sự phức tạp về điều kiện sinh thái đã tạo ra sự phân hóa vùng phân bố ở nước ta. Khu vực phía Bắc là vùng phân bố chủ yếu của cây cà phê chè, khu vực phía Nam là vùng phân bố của cây cà phê vối.

Mức độ phân bố cây không chỉ phân hóa do điều kiện khí hậu, đất đai mà còn phân hóa do điều kiện địa hình và gió. Cây được phân bố chủ yếu ở khu vực đồi núi có địa hình cao trên 800m. Địa hình Việt Nam lại phân hóa rất phức tạp vì vậy đã dẫn đến sự phân bố không đều của cây giữa các vùng, tập trung ở những vùng có địa hình đồi núi như Tây Nguyên, phía bắc Bắc Trung Bộ.

Ngoài ra cây cà phê ở Việt Nam hầu như không trồng ở ven biển cũng như khu vực Duyên Hải Nam Trung Bộ vì điều kiện khí hậu ở đây không phù hợp, đặc biệt là gió. Gió là nhân tốt rất quan trọng ảnh hưởng đến cây. Nên cây rất dễ bị ảnh hưởng của gió khô, gió nóng mà vùng ven biển thì gió quá mạnh. Còn khu vực Nam Trung Bộ thì thường có những đợt gió Lào kéo dài vì vậy sự phân bố cây ở vùng này rất ít.

Mức độ phân bố tại vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng Tây Nam Bộ là thấp nhất. Vì địa hình ở đây chủ yếu là đồng bằng, đất phù sa không thích hợp. Trải dài qua một quá trình lịch sử trên đất nước Việt Nam. Cuối cùng vùng đất Tây Nguyên chính là nơi hội tụ được tất cả những thuận lợi. Nó bao gồm cả về sinh thái và đất đai để cây sinh trưởng và phát triển. Sản phẩm Robusta đã trở thành biểu tượng và là niềm tự hào của Tây Nguyên nói chung, vùng địa danh Buôn Ma Thuột nói riêng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Vào cuối những năm 1990 Việt Nam trở thành nhà sản xuất cà phê hàng đầu ở Đông Nam Á và sau Brazil. Tuy nhiên, sản xuất chủ yếu tập trung vào hạt Robusta. Trong khi Robusta chiếm 92,9% tổng diện tích trồng, thì các giống Arabica chỉ chịu trách nhiệm cho một vài phần trăm – không quá 5% tổng sản lượng của Việt Nam.

Sản xuất đều đặn gia tăng 20% ​​-30% mỗi năm trong những năm 1990. Với những vườn nhỏ được trồng trên nửa triệu mảnh đất (từ hai đến ba mẫu). Điều này đã giúp xoay chuyển mạnh mẽ nền kinh tế. Lấy một số liệu vào năm 1994, đất nước có khoảng 60% người sống dưới mức nghèo khổ. Hiện tại con số này chưa đến 10%,  thành tựu này không thể bỏ qua sự đóng góp mà cây mang lại.

Trong cuộc cải cách, ngành cà phê được quốc hữu hóa, phát triển mạnh tại tỉnh Tây Nguyên. Doanh nghiệp tư nhân được nhân rộng. Dẫn đến một sự phát triển đột biến của ngành công nghiệp chế biến cà phê. Mối liên kết hợp tác giữa người trồng, sản xuất và nhà nước đã đem đến kết quả trong việc xây dựng thương hiệu cà phê thành phẩm và xuất khẩu sản phẩm bán lẻ. Mà điển hình có thể kể đến là cà phê Trung Nguyên vào năm 1996 và Highlands Coffee vào năm 1998.

Xem thêm: lich-su-phat-trien-ca-phe-tu-khai

Related posts

Follow us on Social Media